HÀNG DÉP NẰM IM

Hội dòng Suy Tư-Tản Mạn

Chiều vừa tắt nắng, hành lang cộng đoàn đã nghe tiếng dép bước nhẹ. Không ồn ào, không vội vã, chỉ là những tiếng “bẹp… cộp… chạp…” xen lẫn, như một bản nhạc không lời của ngày sắp khép. Rồi tất cả dừng lại trước cửa nhà nguyện. Người vào, dép ở lại. Hàng dép bắt đầu hình thành.

Bên trái là đôi sandal màu đen của chị đi làm nhà sách, đế mòn gần hết, vẫn còn dính chút bụi đường. Bên phải là đôi dép lê quai ngang màu nâu của em đệ tử, còn thơm mùi nhựa mới, nằm e ấp như ngại ngùng với đám “anh chị” cũ kỹ. Ở giữa là đôi dép da đen sờn gót của sơ bề trên, không còn bóng nhưng được đánh xi cẩn thận. Còn có đôi dép màu xám của chị xuất bản, loại dép bệt mềm, mũi dép còn dính chút giấy vụn từ xấp bản thảo vừa đọc. Đôi dép tổ ong cũ mèm của chị làm bếp, vẫn còn thoảng mùi hành phi từ nồi canh tối. Và đôi dép trực cổng, nặng trịch, đế dày, in dấu những bước chân ra vào nhận thư, mở cổng khi có chuông. Chúng nằm đó, đủ kiểu, đủ màu, đủ tuổi. Không ai bảo ai, tất cả tự động xếp thành hàng như đang chờ được gọi tên.

Tôi hay đứng ở góc hành lang, nhìn hàng dép mà lòng ấm lạ.

Mỗi đôi là một ngày dài, dù ngày ấy diễn ra ở những nơi khác nhau.

Đôi sandal đen đã đi qua quầy sách, qua những cuốn sách được gói cẩn thận, qua nụ cười với khách ở nhà sách cách cộng đoàn vài cây số. Đôi dép màu nâu đã run run bước những bước đầu tiên trong nhà nguyện, khi em đệ tử còn chưa quen với sự im lặng đến mức nghe được cả tiếng tim mình đập. Đôi dép xám đã bước qua những cuộc gặp đối tác, qua những chồng bản thảo cao ngất, qua những buổi chiều ngồi đọc từng dòng chữ, gạch đỏ những chỗ cần sửa. Có hôm chị mang nó chạy từ văn phòng này sang văn phòng kia, bàn chuyện hợp đồng, rồi vội về cộng đoàn, đôi dép xám vẫn còn ấm hơi bụi đường. Đôi dép làm bếp đã đi qua chợ sáng, qua những bó rau còn ướt sương, qua tiếng nồi canh sôi ùng ục trong bếp cộng đoàn. Đôi dép trực cổng đã đứng đón người giao hàng, mỉm cười với các chị em đi làm về, dù trời nắng chang chang.

Hàng dép không nói, nhưng kể được nhiều chuyện.

Có hôm, tôi thấy đôi dép tổ ong bị đảo ngược mũi. Hóa ra chị trực cổng vừa chạy xuống khi có tiếng chuông, vội quá, dép chưa kịp xếp lại. Chị làm bếp lặng lẽ chỉnh lại cho chị, không trách, chỉ cười…

Hàng dép dạy tôi nhiều bài học không có trong sách vở.

Bài học thứ nhất: trật tự bên ngoài là trật tự bên trong. Ai xếp dép ngay ngắn, thường là người biết xếp lại lòng mình sau mỗi ngày bận rộn ở nhà sách, ở phòng xuất bản, ở chợ, ở cổng. Chị làm bếp hay nói: “Dép mà còn biết nằm đúng chỗ, huống chi là con tim”.

Bài học thứ hai: không ai giống ai, nhưng vẫn có thể nằm chung một hàng. Dép bán sách nằm cạnh dép xám xuất bản, dép làm bếp nằm cạnh dép trực cổng, mà không ai ganh tỵ. Chỉ cần cùng hướng về một nơi – nhà nguyện – là đủ.

Bài học thứ ba: dép ở lại, người bước tới. Dép mang chúng tôi từ nơi làm việc về cộng đoàn, rồi lặng lẽ nằm lại. Như những cuốn sách đã bán, những bản thảo đã đọc, những bữa cơm đã nấu, những cuộc điện thoại đã trả lời – tất cả đều ở lại ngoài cửa, để tâm hồn được bước vào nhẹ nhàng.

Tiếng kinh chiều bắt đầu vang lên, nhẹ như hơi thở. Hàng dép vẫn nằm đó, im lặng, kiên nhẫn.

Ánh đèn nhà nguyện hắt ra, vàng ấm, phủ lên từng đôi dép như một vệt mây chiều dịu dàng.

Tôi bước vào, chân trần chạm sàn mát lạnh. Nhưng lòng thì ấm, vì biết: Phía sau lưng mình, có một hàng dép đang cầu nguyện thay – bằng sự ngay ngắn, bằng sự khiêm nhường, bằng tình yêu không cần nói.

Và tôi tin, khi Chúa nhìn xuống, Ngài không nhìn đôi dép đẹp hay xấu. Ngài chỉ nhìn xem: Hàng dép ấy có còn nằm ngay ngắn, để đón những bàn chân mỏi mệt sau một ngày bán sách, đọc bản thảo, gặp khách hàng, nấu cơm, trực cổng… bước về với Ngài hay không!

Mộc Trầm

Tin liên quan: